NỘI DUNG CHÍNH

Trên thế giới, cà phê là một trong những cây trồng bị rất nhiều đối tượng sâu bệnh tấn công và gây hại. Ở Việt Nam, các loại sâu bệnh hại nghiêm trọng trên cây cà phê đã được quan tâm nghiên cứu cụ thể trong nhiều năm trở lại đây. Trong nội dung này, những đối tượng sâu bệnh hại chính trên cà phê tại Việt Nam sẽ được làm sáng tỏ cùng với giải pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM).

Quản lý dịch hại tổng hợp (Integrated Pest Management)

Quản lý dịch hại tổng hợp là một phương pháp nâng cao nhận thức và kỹ năng quản lý đồng ruộng của người nông dân để tạo sự cân bằng trong hệ sinh thái nông nghiệp, để phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cây trồng, môi trường, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhằm bảo vệ sức khỏe con người, vật nuôi và môi trường.

Có 4 nguyên tắc cơ bản trong quản lý dịch hại tổng hợp IPM:

  1. Trồng và chăm cây khoẻ: Chọn giống tốt, đủ tiêu chuẩn và phù hợp với điều kiện canh tác từng vùng. Trồng, chăm sóc đúng kỹ thuật để cây sinh trưởng tốt có sức chống chịu và cho năng suất cao.
  2. Thăm đồng thường xuyên: Kiểm tra đồng ruộng thường xuyên. Nắm được diễn biến về sinh trưởng phát triển của cây trồng, dịch hại, thời tiết, đất trồng… để có biện pháp xử lý kịp thời.
  3. Nông dân trở thành chuyên gia đồng ruộng: Nông dân hiểu biết kỹ thuật, có kỹ năng quản lý đồng ruộng để tuyên truyền cho nhiều nông dân khác.
  4. Bảo vệ thiên địch: Bảo vệ sinh vật có ích, giúp nhà nông tiêu diệt các loại dịch hại trên cây trồng.

Các loài sinh vật có ích trên vườn cà phê

Tên thường gọiTên khoa họcMức độ phổ biếnĐối tượng bị kiểm soát
Nấm ký sinhVerticillium hemileiae+++Nấm gây bệnh gỉ sắt
Beauveria sp.++Rệp sáp, ve sầu, sâu đục thân
Metarhizium sp.++Rệp sáp, ve sầu
Nấm đối khángTrichoderma sp.+++Nấm gây bệnh thối nứt thân, thối – lở cổ rễ…
Bọ rùa đỏChilocorus politus+++Rệp vảy xanh, rệp vảy nâu, rệp sáp hại quả
Bọ rùa nhỏScymnus sp.+Rệp sáp hại quả
Bọ mắt vàngChrysopa sp.+Rệp sáp hại quả
Ong ký sinhLeptomastix sp.+Rệp sáp hại quả
Ruồi ký sinhIschiodon scotellais+Rệp sáp hại quả
Mạch cánh nâuNewronema abbostigama+Rệp sáp hại quả
Nhện nhỏChưa xác định+Rệp sáp hại quả
Ghi chú: +++: Rất phổ biến; ++: Phổ biến; +: Không mấy phổ biến

Một số sâu hại chính trên cây cà phê

Rệp vảy xanh và rệp vảy nâu

Triệu chứng gây hại

Cây cà phê bị rệp vảy xanh và rệp vảy nâu gây hại thường phát triển kém và có sự xuất hiện của nhiều loài kiến và nấm muội đen. Chồi non, lá non và quả non thường bị rệp gây hại nặng và phủ kín nấm muội đen, làm giảm khả năng quang hợp rất nhiều.

Rệp-vảy-xanh-và-rệp-vảy-nâu

Tác nhân gây hại

Rệp vảy xanh có tên khoa học là Coccus viridis. Rệp có hình chữ nhật góc lượn tròn, có màu vàng xanh, mình dẹt và mềm nên còn được gọi là rệp xanh mình mềm. Rệp cái trưởng thành không có cánh và chân không phát triển, trong khi rệp non có chân khá phát triển.

Rệp vảy nâu có tên khoa học là Saissetia hemisphaerica. Rệp cái không có cánh và được bọc bằng một lớp vỏ màu nâu, phồng lên hình bán cầu.

Sự phát sinh phát triển gây hại của rệp

Rệp vảy xanh và rệp vảy nâu xuất hiện quanh năm trên vườn cà phê và thường gây hại nặng trong mùa khô. Hai loại rệp này chủ yếu chích hút nhựa cây ở các bộ phận non của cà phê như: lá non, chồi non và quả non.

Rệp vảy xanh và rệp vảy nâu có mối quan hệ cộng sinh với các loài kiến: rệp tiết ra chất mật ngọt là thức ăn của kiến, ngược lại kiến làm nhiệm vụ vừa bảo vệ rệp tránh được các loài thiên địch vừa làm nhiệm vụ lây lan rệp từ nơi này đến nơi khác.

Một trong những kẻ thù tự nhiên của rệp vảy xanh và rệp vảy nâu là bọ rùa đỏ (Chilocorus politus). Một con rệp mẹ có thể đẻ 500 – 600 trứng, trứng được ấp dưới bụng mẹ và nở thành ấu trùng non trong vòng vài giờ sau đó. Giai đoạn ấu trùng của rệp kéo dài 4 – 6 tuần. Rệp trưởng thành có thể sống kéo dài 2 – 5 tháng. Rệp còn ký sinh gây hại trên nhiều loại cây ký chủ khác như: khoai mì, ổi, chè, cam, quýt…

Biện pháp phòng trừ

Thường xuyên theo dõi sự phát sinh phát triển của rệp trên đồng ruộng để có những tác động kịp thời và hợp lý. Vệ sinh đồng ruộng, làm cỏ sạch sẽ để hạn chế sự phát triển của các loài kiến. Thuốc hóa học bảo vệ thực vật chỉ được phun khi cần thiết và chỉ phun những cây bị rệp gây hại. Nên dùng một trong các loại thuốc có hoạt chất như: Chlorpyrifos Ethyl, Profenofos, Cypermethrin + Profenofos, Imidacloprid, Spirotetramat, Dinotefuran…

Rệp sáp hại quả (Planococcus kraunhiae)

Triệu chứng gây hại

Cây cà phê bị rệp sáp gây hại trên các chùm quả thường làm cây còi cọc, kém phát triển. Thường thấy rất nhiều nấm muội đen bao phủ trên các chùm quả, cành mang quả, lá cà phê. Khi bị rệp gây hại nặng lá cà phê úa vàng, quả cà phê khô dần rồi rụng nhiều.

Tác nhân gây hại

Rệp sáp gây hại quả có tên khoa học là Planococcus kraunhiae. Cơ thể rệp có màu hồng nhưng được bao bọc bên ngoài bằng một lớp sáp màu trắng nên được gọi là rệp sáp.

Sự phát sinh phát triển gây hại của rệp

Rệp sáp hại quả thường xuất hiện từ sau khi hoa cà phê nở cho đến hết vụ thu hoạch. Rệp sáp gây hại nặng trong các tháng mùa khô và đầu mùa mưa và giảm nhiều trong khoảng thời gian giữa mùa mưa. Rệp sáp cũng có mối quan hệ cộng sinh với các loài kiến tương tự rệp vảy xanh, vảy nâu.

Vòng đời rệp sáp 26 – 40 ngày, trong đó giai đoạn trứng kéo dài từ 5 – 7 ngày. Rệp đẻ trứng vào các kẽ lá, chùm nụ – hoa, chùm quả non. Một con rệp mẹ có thể đẻ đến 500 trứng theo từng lứa. Rệp non sau khi nở 2 – 3 ngày thì bò ra và nhanh chóng tìm nơi sống cố định.

Biện pháp phòng trừ

Để phòng trừ rệp sáp hại quả có hiệu quả cao cần phải theo dõi liên tục sự xuất hiện của rệp sáp trên vườn để có biện pháp xử lý kịp thời. Khi rệp mới xuất hiện với tỷ lệ cành bị hại còn thấp có thể cắt đốt cành bị rệp.

Khi bị nặng, ngoài những biện pháp canh tác (cắt tỉa cành thông thoáng, làm sạch cỏ dại…), có thể tiến hành phun một trong các loại thuốc có hoạt chất như: Profenofos, Cypermethrin + Profenofos, Imidacloprid, Spirotetramat, Dinotefuran… Khi phun thuốc cần chú ý phun thật kỹ vào các chùm quả sao cho thuốc có thể tiếp xúc được trứng và rệp non.

Rệp sáp hại rễ (Planococcus lilacinus)

Triệu chứng gây hại

Cây cà phê bị rệp sáp gây hại rễ thường có triệu chứng sinh trưởng và phát triển rất kém, lá vàng úa và rụng từ từ. Hệ thống rễ của cây cà phê bị gây hại nặng bởi rệp sáp rễ có thể hình thành “măng-sông” quanh rễ chính và rễ tơ.

Cây cà phê bị rệp sáp gây hại rễ

Tác nhân gây hại

Rệp sáp hại rễ cũng có lớp sáp màu trắng bao bọc bên ngoài. Cơ thể rệp sáp hại rễ cũng có màu hồng nhưng thân hình dày hơn rệp sáp hại quả và phồng lên như hình bán cầu.

Sự phát sinh phát triển gây hại của rệp

Rệp sáp rễ thường chích hút ở phần cổ rễ và rễ ngang của cây cà phê. Rệp sáp rễ phát triển mạnh trong mùa mưa khi ẩm độ đất cao. Khi mật độ rệp sáp ở gốc cà phê tăng cao, rệp bắt đầu lan dần ra các rễ ngang và rễ tơ. Gặp điều kiện thuận lợi rệp sáp rễ sẽ kết hợp với nấm Bornetina corium tạo thành “măng-sông” bao quanh rễ cây làm cho rễ nhanh chóng bị hủy hoại và làm cho thuốc hóa học không thể thâm nhập qua.
Rệp chích hút gây ra những vết thương trên rễ tạo điều kiện thuận lợi cho các nấm xâm nhập và gây thối rễ. Chất thải do rệp tiết ra là nguồn thức ăn của các loài kiến và kiến là tác nhân chính giúp rệp phát tán.
Vòng đời của rệp sáp hại rễ cà phê dao động từ 20 – 50 ngày. Khác với rệp sáp hại quả, rệp sáp hại rễ lại đẻ con. Rệp con sau khi đẻ được 2 – 3 ngày sẽ di chuyển ra khỏi phần bụng của rệp mẹ để tìm nơi sinh sống mới. Một con rệp có thể đẻ khoảng 200 con và đẻ làm nhiều lứa.

Biện pháp phòng trừ

Trong mùa mưa nên kiểm tra định kỳ phần cổ rễ cà phê ở dưới mặt đất (đặc biệt ở những vùng có tiền sử rệp sáp hại gốc) để phát hiện sớm sự xuất hiện của rệp. Nếu thấy mật độ rệp sáp ở cổ rễ lên cao có nguy cơ lây lan xuống rễ (khoảng > 100 con/gốc) thì có thể dùng những loại thuốc hóa học bảo vệ thực vật tương tự như thuốc dùng để phòng trừ rệp sáp hại quả. Đối với các cây cà phê bị rệp gây hại nặng dưới gốc (rễ đã bị “măng-sông”) thì nên đào bỏ, thu gom và đốt tiêu hủy nguồn rệp.

Mọt đục quả (Hypothenemus hampei)

Triệu chứng gây hại

Quả cà phê bị mọt gây hại thường có một lỗ tròn nhỏ cạnh núm hoặc chính giữa núm quả. Phần phôi nhũ hạt cà phê bị sâu non ăn rỗng chuyển màu đen và có các rãnh nhỏ để mọt trưởng thành đẻ trứng. Thông thường quả cà phê bị mọt gây hại sẽ bị mất hẳn một nhân. Tuy nhiên cũng có trường hợp mất cả hai nhân nếu mật độ mọt trên vườn nhiều.

Cà phê bị mọt đục quả

Tác nhân gây hại

Mọt trưởng thành là bọ cánh cứng nhỏ, đầu gục về phía trước. Con cái có màu đen bóng, dài
từ 1,5mm đến 2mm và có cánh màng. Con đực có màu nâu đen, không có cánh màng và nhỏ hơn con cái, chỉ dài 1mm.

Sự phát sinh phát triển gây hại của mọt đục quả

Mọt đục quả lưu truyền quanh năm trên vườn cà phê. Mọt sống trong các quả khô dưới đất và trên cây sau vụ thu hoạch, tiếp tục lan truyền sang các quả xanh già và quả chín trong suốt mùa mưa. Mọt có thể phá hoại cả quả khô trong kho bảo quản nếu không được phơi khô và ẩm độ hạt còn cao (> 13%). Vòng đời của mọt kéo dài khoảng 43 – 54 ngày. Mọt đục quả là đối tượng gây thiệt hại lớn đến sản lượng cà phê trên thế giới vì nó không chỉ gây hại trên đồng ruộng mà còn gây hại cả trong quá trình bảo quản.

Biện pháp phòng trừ

Vệ sinh đồng ruộng sau khi thu hoạch bằng cách tận thu tất cả các quả khô và chín còn sót lại ở trên cây và dưới đất. Thu hái các quả chín trên cây bất cứ lúc nào để hạn chế sự tác hại và cắt đứt sự lan truyền của mọt. Cần bảo quản hạt cà phê ở ẩm độ < 13%. Ở vùng bị mọt đục quả phá hoại nặng nhiều năm liền có thể dùng thuốc hóa học để để phun trên toàn vườn.

Mọt đục cành (Xyleborus morstatti)

Triệu chứng gây hại

Cành cà phê bị mọt đục thường có biểu hiện qua 3 giai đoạn: (1) Các vảy bao hình tam giác ở các đốt của cành cà phê đen lại, một vài cặp lá ở gần lỗ đục tiến về phía đầu cành bị rụng; (2) Cành bị mọt đục có hiện tượng héo, trên cành chỉ còn vài cặp lá ở phía đầu cành; (3) Cành chết khô.

Tác nhân gây hại

Mọt trưởng thành là một loại bọ cánh cứng có màu nâu đến màu đen sẫm. Mọt cái trưởng thành có kích thước cơ thể lớn hơn, màu sắc đậm hơn mọt trưởng thành đực. Cơ thể mọt cái trưởng thành dài khoảng 1,6 – 2,0mm. Trong khi đó, cơ thể mọt đực trưởng thành dài khoảng 0,8 – 1,0mm.

Sự phát sinh phát triển gây hại của mọt đục cành

Mọt đục cành xuất hiện nhỏ lẻ trong các tháng mùa khô, bắt đầu phá hại nặng từ tháng 9 đến tháng 12. Mọt gây hại nặng trên các vườn cà phê kiến thiết cơ bản và chủ yếu gây hại trên các cành cà phê tơ.

Mọt trưởng thành đục một lỗ nhỏ bên dưới các cành tơ hay bên hông các chồi vượt làm thành một tổ rỗng và đào hang rãnh bên trong để đẻ trứng. Mọt cái đẻ trứng trong hang do chúng tạo ra, sâu non khi nở ra chỉ ăn một loại nấm Ambrosia do mọt trưởng thành cái mang các bào tử nấm vào trong quá trình làm tổ.

Vòng đời của mọt đục cành kéo dài từ 31 – 48 ngày. Mọt trưởng thành có thể di chuyển đến một số cây ký chủ khác như: cây bơ, ca cao, xoài… Ở Tây Nguyên muồng hoa vàng hạt to và cây đậu săng là 2 cây ký chủ phụ chủ yếu của mọt đục cành.

Biện pháp phòng trừ

Cần phải cắt bỏ sớm các cành mới bị mọt đục và đốt bỏ để loại bớt nguồn mọt. Khi cắt bỏ các cành bị mọt đục cần cắt bỏ cành ở vị trí cách lỗ đục ít nhất 8 cm về phía trong gốc cành cà phê để thu gom toàn bộ tổ mọt. Hiện tại chưa có thuốc đặc trị để phòng trừ mọt đục cành gây hại cà phê.

Ve sầu

Triệu chứng gây hại

Cây cà phê vàng úa và còi cọc do ve sầu gây hại thường có một số lượng rất lớn các lỗ nhỏ dưới bồn cà phê (> 500 lỗ đục/bồn). Triệu chứng do ve sầu gây hại nặng thường rất dễ nhầm lẫn với hiện tượng thiếu dinh dưỡng và bệnh vàng lá thối rễ nếu chỉ quan sát tán lá cà phê.

Tác nhân gây hại

Theo các tài liệu nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật, có 6 loài ve sầu được tìm thấy trên các vườn cà phê vùng Tây Nguyên, trong đó có 3 loài được tìm thấy với mức độ phổ biến, bao gồm: Dundubia nagarasingna, Pomponia daklakensis Purana pigmentata.

Sự phát sinh phát triển gây hại của ve sầu

Ve sầu tồn tại và phát triển quanh năm ở các vùng trồng cà phê tại Tây Nguyên. Thời điểm có thể thấy ve sầu nhiều nhất là tháng 3 – tháng 4 hàng năm. Vòng đời của ve sầu dao động rất lớn tùy theo từng loài (khoảng 2 – 25 năm).

Biện pháp phòng trừ

Bảo vệ các loài kiến (kiến đen, kiến vàng…) trên vườn cà phê. Sử dụng các loại chế phẩm sinh học có nấm ký sinh Metarhizium anisopliae để tưới quanh gốc cà phê vào đầu mùa và giữa mùa mưa hàng năm. Hạn chế sử dụng thuốc hóa học bảo vệ thực vật để phòng trừ ve sầu vì hiệu quả phòng trừ không cao và không mấy an toàn cho môi trường sống.

Một số bệnh hại chính trên cây cà phê

Bệnh gỉ sắt (Hemileia vastatrix)

Triệu chứng gây hại

Quan sát mặt dưới của lá cà phê bị bệnh sẽ có những chấm màu vàng lợt. Càng về sau lớp bột này có màu vàng cam sáng và làm cháy khô tế bào lá tại vị trí có vết bệnh. Các vết cháy liên kết lại với nhau và làm cháy toàn bộ lá, lá khô rụng.

BLUE HARVEST EL SALVADOR

Tác nhân gây hại

Bào tử của nấm gây bệnh H. vastatrix chỉ nảy mầm ký sinh gây bệnh trên lá trong điều kiện ẩm ướt, có hạt sương – mưa.

Sự phát sinh phát triển của bệnh

Bệnh gỉ sắt chủ yếu gây hại trên lá, rất ít khi thấy ở trên thân và quả. Bệnh phát sinh gây hại quanh năm. Tuy nhiên thời điểm gây bệnh hại nặng nhất từ tháng 7 đến tháng 12 hàng năm.

Bào tử nấm bệnh H. vastatrix nảy mầm ở nhiệt độ 15 – 28℃ (khoảng nhiệt độ thích hợp nhất 20 – 240℃) và trong điều kiện tối, ẩm độ cao.

Biện pháp phòng trừ

Biện pháp hiệu quả nhất hiện nay là sử dụng các giống cà phê có khả năng kháng bệnh gỉ sắt cao như: Cartimor, TR4, TR5, TR6, TR9, TR13. Cần loại bỏ ngay các cây con bị nhiễm bệnh gỉ sắt trong vườn ươm cây giống. Có thể sử dụng một trong các loại thuốc có hoạt chất sau để phun như: Difenoconazole + Propiconazole, Propiconazole, Diniconazole, Hexaconazole, Tebuconazole + Trifloxystrobin, Tetraconazole… để phòng trừ bệnh.

Bệnh thán thư (cháy lá, khô cành, khô quả, thối cuống quả)

Triệu chứng gây hại

Vết bệnh trên lá là những đốm cháy đen từ mép ngoài lá lan dần vào bên trong, có vầng tròn xếp lớp rất rõ nét. Các vết cháy lá liên kết lại làm cho lá cháy khô hoàn toàn khi bệnh nặng. Trên quả vết bệnh có thể bắt gặp ở bất kỳ vị trí nào trên bề mặt quả cà phê (thường gặp nhất là ở vị trí cuống quả). Cuống quả bị bệnh thường thối đen làm rụng quả. Trong trường hợp bệnh phát triển nhanh và không phòng trị kịp thời sẽ dẫn tới hiện tượng khô cành – khô quả.

Cây cà phê bị bệnh thán thư (cháy lá, khô cành, khô quả, thối cuống quả)

Tác nhân gây bệnh

Nấm gây bệnh thán thư là nấm Colletotrichum sp – là một chi nấm cộng sinh với thực vật dưới dạng nội sinh (sống trong thực vật) hoặc thực vật gây bệnh. Nhiều loài trong chi này là mầm bệnh thực vật, nhưng một số loài có thể có mối quan hệ tương hỗ với vật chủ. Nó gây thối đắng trong nhiều loại cây trồng trên toàn thế giới, đặc biệt là cây lâu năm ở các vùng nhiệt đới.

Sự phát sinh phát triển gây hại của bệnh.

Bệnh thán thư (khô quả – khô cành) thường phát sinh – phát triển trong khoảng thời gian tháng 5 – 12 hàng năm. Gây hại nặng nhất vào tháng 9 – 11. Ban đầu, vết bệnh chỉ là chấm đen nơi cuống quả cà phê hoặc ở bất kỳ vị trí nào của quả, sau đó lan dần và làm quả đen khô. Vết bệnh lan từ quả này sang quả khác trên chùm quả. Thậm chí làm chùm quả khô cháy hoàn toàn. Nấm bệnh phát triển rất nhanh trong điều kiện nóng ẩm và ở những vườn cà phê không thông thoáng.

Biện pháp phòng trừ

Thực hiện tốt biện pháp canh tác như: làm cỏ, cắt cành tạo tán, rong tỉa cây chắn gió – che bóng,… tạo thông thoáng vườn cây. Bón phân cân đối và hợp lý để tránh hiện tượng kiệt sức và dễ bị nhiễm bệnh trong thời kỳ cây nuôi quả.

Trường hợp bệnh gây hại quá nặng, nên áp dụng biện pháp phun thuốc hóa học với một trong các loại thuốc có hoạt chất như: Propineb, Tebuconazole + Trifloxystrobin, Azoxystrobin + Difenoconazole, Carbendazim, Copper Hydroxide, Difenoconazole + Propiconazole… Thời điểm phun thuốc phòng bệnh thích hợp tháng 6 – 8, phun 2 – 3 lần, mỗi lần cách nhau 15 ngày.

Bệnh tảo đỏ (Cephaleuros sp)

Triệu chứng gây hại

Cành cà phê bị bệnh “tảo đỏ” gây hại thường có rất nhiều chấm loang lổ (chấm bi, chấm lớn vòng tròn không đều) xuất hiện trên mặt phía trên của cành. Quan sát kỹ có thể thấy rất nhiều hệ sợi xếp sát nhau, màu sắc của vết bệnh có thể là xanh rêu hoặc đỏ gạch.

Tác nhân gây hại

Do tảo Cephaleuros sp – một chi tảo ký sinh bao gồm khoảng 14 loài. Tảo ký sinh trên một số cây trồng có giá trị kinh tế quan trọng của vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như chè, cà phê, xoài, ổi,… gây thiệt hại giới hạn ở diện tích tảo phát triển trên lá (đốm lá tảo), hoặc làm chết chồi non, hoặc làm biến dạng quả.

Sự phát sinh phát triển gây hại của bệnh

Bệnh “tảo đỏ” thường xuất hiện và gây hại nặng trong các tháng mùa mưa trên thân và các cành cà phê bánh tẻ, chủ yếu ở vườn cà phê kinh doanh. Sau những ngày “mưa dầm” bệnh phát triển mạnh.

Biện pháp phòng trừ bệnh

Thực hành tốt các biện pháp canh tác trên đồng ruộng (làm cỏ sạch, cắt cành tạo tán thích hợp, rong tỉa cây che bóng – chắn gió…) để làm thông thoáng vườn cây trong mùa mưa. Cắt bỏ các cành cà phê bị bệnh “tảo đỏ” gây hại nặng làm khô cành. Trong trường hợp bệnh “tảo đỏ” xuất hiện và gây hại > 30% tán cây, cần phải áp dụng biện pháp phun thuốc hóa học để phòng trị bệnh. Có thể sử dụng một trong các loại thuốc có hoạt chất như: Copper Hydroxide…

Bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor)

Triệu chứng gây hại

Bệnh nấm hồng thường gây hại trên cành cà phê mang quả. Vết bệnh đầu tiên là những chấm rất nhỏ màu trắng giống như bụi phấn. Số lượng chấm nhỏ nhiều lên và tạo thành một lớp phấn mỏng có màu hồng. Vết bệnh thường phát triển chạy dọc theo mặt dưới của cành, cuống quả và làm cành cà phê chết khô, quả héo rồi rụng rất nhanh.

Bệnh nấm hồng trên cành cà phê mang quả

Tác nhân gây bệnh

Nấm gây bệnh nấm hồng là Corticium salmonicolor.

Sự phát sinh phát triển gây hại của bệnh nấm hồng

Nấm bệnh phát triển nhanh trong điều kiện ẩm độ cao nhưng lại yêu cầu nhiều ánh sáng. Vị trí cành cà phê bị bệnh thường xuất hiện ở tầng giữa và tầng trên của tán cà phê. Ở Tây Nguyên, bệnh phát sinh phát triển gây hại từ tháng 6 hàng năm và cao điểm là tháng 9 – 10. Bệnh nấm hồng thường gây hại nặng trên cà phê chè hơn là cà phê vối.

Biện pháp phòng trừ

Thường xuyên kiểm tra vườn cà phê để phát hiện cây bị bệnh sớm và cắt bỏ, thiêu hủy các cành bệnh kịp thời. Có thể dùng một trong các loại thuốc có hoạt chất để phun phòng trừ bệnh như: Validamycin (Validamycin A), Hexaconazole, Copper Hydroxide… pha theo nồng độ khuyến cáo của nhà sản xuất.

Bệnh thối nứt thân (Fusarium sp.)

Triệu chứng gây hại

Cây cà phê bị bệnh thối nứt thân thường phát triển kém, lá héo rũ nhanh rồi chết khô. Vết bệnh trên thân thường bị thối nhũn, rất dễ bóc rời khỏi phần thân gỗ, mạch gỗ bị khô làm tắc đường vận chuyển nước và dinh dưỡng trong cây. Vết bệnh có thể phát hiện ở bất cứ vị trí nào trên thân cây.

Cây cà phê bị bệnh thối nứt thân

Tác nhân gây hại

Nấm gây bệnh thối nứt thân (Fusarium sp.) phát tán dễ dàng trong không khí và được lan truyền nhanh nhờ gió, nước, côn trùng,
động vật…

Sự phát sinh phát triển gây hại của bệnh

Bệnh thối nứt thân thường xuất hiện gây hại nặng trên các vườn cà phê kinh doanh không thông thoáng, ẩm thấp, độ ẩm không khí cao trong các tháng mùa mưa. Nấm bệnh phát triển và gây hại nặng trong tháng 5 – 9 hàng năm. Nấm bệnh xâm nhập gây hại và lan truyền từ cây này sang cây khác rất nhanh.

Biện pháp phòng trừ

Áp dụng tốt các biện pháp làm cành, rong tỉa cây che bóng – chắn gió, làm cỏ… để vườn cây thông thoáng, hạn chế nấm bệnh phát triển. Đầu mùa mưa hàng năm (tháng 4 – 5) nên áp dụng biện pháp quét vôi lên thân cây cà phê cách mặt đất 40 – 60cm để phòng tránh bệnh phát triển và lây lan. Một số chế phẩm sinh học của nấm Trichoderma cũng có thể được dùng để phun lên thân cây vào đầu mùa mưa để phòng tránh bệnh phát triển và lây lan.

Kiểm tra vườn cây thường xuyên để phát hiện bệnh sớm. Nếu thấy có các vết thối trên thân dễ bóc vỏ khỏi thân gỗ thì phải tiến hành cạo sạch phần vỏ thân bị bệnh thu gom tiêu hủy và quét thuốc hóa học lên vết cạo để phục hồi cây. Nên dùng một trong các loại thuốc có hoạt chất như: Copper Hydroxide, Cuprous Oxide… pha với nồng độ 1%.

Bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani)

Triệu chứng gây hại

Bệnh lở cổ rễ xuất hiện và gây hại nhiều trên cây cà phê trong vườn ươm và cà phê kiến thiết cơ bản. Triệu chứng điển hình của bệnh là phần cổ rễ cây cà phê thường bị thối đen và thắt lại, cây héo rũ – chết.

Bệnh lở cổ rễ trên cây cà phê non

Tác nhân gây bệnh

Nấm ký sinh gây bệnh là Rhizoctonia solani.

Sự phát sinh phát triển gây hại của bệnh

Trong vườn ươm cây giống, bệnh thường xuất hiện và gây hại nặng ở các vườn ươm có ẩm độ đất cao, ít thông thoáng, đất trong bầu bị dí chặt và nhiều cỏ dại. Trên đồng ruộng, bệnh thường xuất hiện và gây hại nặng trong mùa mưa (tháng 5 – 10), ở những vùng trồng cà phê trũng, ẩm thấp, đất ít được xới xáo. Nguồn bệnh có thể bắt đầu từ các cây con đã bị bệnh trong vườn ươm hoặc từ đất trồng. Cà phê trồng trên đất pha cát dễ bị nhiễm bệnh hơn trên đất đỏ bazan. Cà phê chè mẫn cảm với nấm bệnh này hơn cà phê vối và cà phê mít.

Biện pháp phòng trừ

Trong vườn ươm cần phải lưu ý một số biện pháp kỹ thuật như: (1) Không nên tưới nước quá ẩm; (2) Không che vườn ươm quá dày, dùng lưới che 50% ánh sáng; (3) Xới xáo bằng việc bóp bầu, luân chuyển bầu để tạo thông thoáng trong bầu; (4) Kiểm tra và nhổ bỏ sớm các cây bị nhiễm bệnh; (5) Nên sử dụng một số chế phẩm sinh học có nấm đối kháng Trichoderma để phun định kỳ. Khi cần sử dụng thuốc hóa học để phun, nên dùng một trong các loại thuốc có hoạt chất: Copper Hydroxide, Cuprous Oxide…; pha theo nồng độ khuyến cáo trên bao bì.

Trên đồng ruộng cần áp dụng một số biện pháp kỹ thuật canh tác như sau: (1) Chọn vùng đất trồng cà phê phải có tầng canh tác dày, thoát nước tốt, mực nước ngầm thấp; (2) Sử dụng cây giống tốt không có triệu chứng của bệnh lở cổ rễ; (3) Tránh tạo vết thương trên phần gốc cây trong quá trình làm cỏ và đánh chồi vượt sát gốc; (4) Kiểm tra đồng ruộng thường xuyên để phát hiện cây vừa chớm bị bệnh và tưới thuốc hóa học như trên để phục hồi cây.

Bệnh vàng lá thối rễ

Triệu chứng gây hại

Bệnh vàng lá thối rễ có thể gây hại cây cà phê trong vườn ươm cho đến cà phê trưởng thành. Cây cà phê bị nhiễm bệnh có biểu hiện sinh trưởng rất kém, lá vàng úa và khô đầu lá. Triệu chứng chung trên rễ của các cây bị bệnh là rễ có các vệt thối đen hoặc rễ có những nốt sưng từ nhỏ tới lớn. Những cây cà phê bị tuyến trùng gây hại nặng thường bị mất rễ cọc và dễ bị đổ gãy khi gặp gió. Các triệu chứng trên thường xuất hiện cục bộ thành từng vùng trên vườn cà phê (khác với triệu chứng vàng lá toàn vườn do cây bị thiếu dinh dưỡng).

Bênh tuyến trùng

Tác nhân gây hại

Bệnh vàng lá thối rễ cà phê được xác định nguyên nhân là do tuyến trùng (Pratylenchus coffeae, Meloidogyne sp.,…) và nấm ký sinh gây bệnh (Fusarium solani, Fusarium oxysporum, Rhizoctonia solani,…). Các vết thương hay nốt sưng trên rễ do tuyến trùng gây ra sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các loài nấm ký sinh gây bệnh tấn công làm thối rễ cà phê.

Sự phát sinh phát triển gây hại bệnh

Bệnh vàng lá thối rễ phát sinh gây hại nặng vào thời điểm cuối mùa khô đầu mùa mưa hàng năm. Cây cà phê trong vườn ươm thường xuất hiện bệnh gây hại ở giai đoạn 3 – 4 tháng tuổi.

Các loài tuyến trùng ký sinh gây hại cà phê chủ yếu sống trong đất và rễ cây. Trứng của tuyến trùng có thể tồn tại rất lâu trong đất khi gặp điều kiện không thuận lợi. Ẩm độ đất cao tạo điều kiện thuận lợi cho tuyến trùng phát triển mạnh. Tuy nhiên, đất quá khô hay quá ẩm cũng làm chết tuyến trùng. Đa số tuyến trùng chết ở nhiệt độ 50 – 55℃. Tưới tràn làm tuyến trùng lây lan nhanh, khó kiểm soát.

Biện pháp phòng trừ

Sử dụng một số chế phẩm sinh học có nấm Trichoderma, nấm Paecilomyces lilacinus để phòng tránh sự bùng phát gây hại bệnh vàng lá thối rễ.

Không được sử dụng đất nhiễm tuyến trùng để vào bầu ươm cây giống. Phải thay đổi vị trí của vườn ươm qua các năm. Đất dùng vào bầu cần được xử lý để tiêu diệt nguồn tuyến trùng trong đất.

Trồng cây cà phê giống khỏe mạnh và sạch nguồn tuyến trùng ký sinh. Trong trường hợp giống cây không rõ nguồn gốc cần phải được xử lý thuốc hóa học để đảm bảo tính sạch bệnh của nguồn giống và để tiết kiệm chi phí xử lý thuốc sau khi trồng. Xử lý các bầu cây giống bằng biện pháp tưới dung dịch thuốc trị tuyến trùng với một trong các hoạt chất sau: Ethoprophos, Abamectin… Sau đó 2 ngày tiến hành tưới roa dung dịch thuốc trị nấm, với một trong các loại thuốc có hoạt chất như: Copper Hydroxide, Cuprous Oxide… pha theo nồng độ theo khuyến cáo trên bao bì. Biện pháp xử lý này cần được tiến hành 2 lần cách nhau 10 ngày.

Vườn cà phê kinh doanh bị nhiễm bệnh cần được phát hiện và xử lý thuốc hóa học kịp thời để tránh hiện tượng lây lan. Xử lý các loại thuốc hóa học để phòng trị tuyến trùng và trị nấm như đã nói ở trên với lượng dung dịch thuốc tưới là khoảng 3 – 4 lít/gốc cà phê, nếu thuốc trị tuyến trùng bằng hạt thì rải 50g thuốc hạt/hố trồng cà phê, rải quanh mép tán cà phê.

Nhổ bỏ cây cà phê có triệu chứng vàng lá và rễ cọc bị thối hoàn toàn. Đào và phơi hố trong mùa khô sau đó xử lý hố trồng bằng các loại thuốc hóa học như đã nói ở trên trước khi trồng dặm 45 ngày.

Canh tác toàn tập là một chuyên mục đặc biệt từ PrimeCoffee, nhằm cung cấp một góc nhìn tổng quan về những yếu tố bạn có thể và/hoặc không thể kiểm soát, cũng như cách thực hiện những kiểm soát có thể để tạo ra một vụ mùa bền vững và một cốc cà phê ngon.


/ CHIA SẺ BÀI VIẾT NÀY /
Prime Author
Prime Author

Chúng tôi vô cùng biết ơn các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và các tác giả, thông quan những tài liệu và ấn phẩm mà chúng tôi đã tham khảo; Công việc của họ là nền tảng cho toàn bộ trang tin này!

Prime Author
Prime Author

Chúng tôi vô cùng biết ơn các nhà khoa học, nhà nghiên cứu và các tác giả, thông quan những tài liệu và ấn phẩm mà chúng tôi đã tham khảo; Công việc của họ là nền tảng cho toàn bộ trang tin này!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *