Tổng quan về cà phê Burundi từ Châu Phi | PrimeCoffee

Cà phê đến Burundi vào những năm 1920 dưới chế độ thuộc địa của Bỉ, và từ năm 1933, mỗi nông dân phải trồng ít nhất năm mươi cây cà phê. Khi Burundi giành được độc lập vào năm 1962, việc sản xuất cà phê đã trở thành tư nhân. Điều này đã thay đổi vào năm 1972, cùng với môi trường chính trị, nhưng kể từ năm 1991, cà phê đã dần dần được quay trở lại khu vực tư nhân (James Hoffmann, The World Atlas of Coffee).

Một đọan phim giới thiệu về cộng đồng sản xuất cà phê chất lượng cao tại vùng núi Migoti – Burundi

Từ sau 1990, Cây cà phê Burundi phát triển và giữ vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp, giúp mang về một lượng ngoại hối to lớn. Đầu những năm 2000, lấy cảm hứng từ sự thành công của nước láng giềng Rwanda trong việc tái thiết đất nước bằng cây cà phê, ngành cà phê của Burundi được chú trọng đầu tư và phát triển rõ rệt.

Lịch sử cà phê Burundi

Có cùng biên giới với Rwanda và nhiều nét tương đồng trong lịch sử canh tác cà phê, Cây cà phê có mặt ở Burundi trong thời gian quốc gia này thuộc địa của Bỉ( Belgian), Đây là giai đoạn tươi sáng của ngành cà phê thế giới khi mà nhu cầu về cà phê ở châu Âu tăng mạnh, nhưng lại khá đen tối với Burundi. Người nông dân phải trồng cà phê do đàn áp, và giá trị không cao, cho đến những năm 1960 cà phê mới được tư nhân hóa, song do thiếu kiến thức, nguồn giống , v.v. cà phê cho chất lượng rất kém.

Từ sau 1990, nội chiến và xung đột sắc tộc kết thúc. Cây cà phê Burundi phát triển và giữ vai trò quan trọng trong nền nông nghiệp, khi mang về một lượng ngoại hối to lớn. Lấy cảm hứng từ sự thành công của nước láng giềng Rwanda trong việc tái thiết đất nước bằng cây cà phê, ngành cà phê của Burundi được chú trọng đầu tư và phát triển rõ rệt.

Phơi khô cà phê tại Burundi

Đang trên đà phát triển kể từ năm 1991, ngành cà phê Burundi mở rộng phạm vi ngày càng đều đặn, nhưng cuộc nội chiến năm 1993 đã khiến sản lượng sụt giảm nghiêm trọng. Kể từ đó, nhiều nỗ lực đã được thực hiện để tăng cả sản lượng và giá trị của cà phê ở Burundi.

Đầu tư vào ngành công nghiệp này được coi là rất quan trọng, vì nền kinh tế của Burundi đã bị tan vỡ do xung đột. Năm 2011, Burundi có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất thế giới với 90% dân số sống dựa vào nông nghiệp tự cung tự cấp. Xuất khẩu cà phê và chè kết hợp chiếm khoảng 90% tổng thu nhập ngoại hối. Sản lượng cà phê đang phục hồi nhưng vẫn chưa đạt mức của đầu những năm 1980.

Sản xuất cà phê tại Burundi

Với gần 700.000 gia đình phụ thuộc vào cây cà phê, cộng với diện tích đất canh tác ít nên việc hướng tới giá cả cao hơn thông qua cải thiện chất lượng con đường duy nhất của cà phê Burundi. Tuy vậy, nỗi lo thường trực về bất ổn chính trị vẫn bao trùm khí quyển nước này. Mặc cho điều đó, vẫn có nhiều cơ sở cho sự phát triển của cà phê Burundi, dữ liệu sau đây được thống kê bởi CafeImports vào năm 2017:

Quy mô sản xuất:

  • Dân số tham gia vào ngành cà phê: Xấp xỉ 700,000 nông dân.
  • Quy mô trang trại trung bình: Từ 0.5 đến1 ha.
  • Sản lượng xuất khẩu hàng năm: chỉ khoảng 160,000 bao (60 kg).

Hoạt động canh tác cà phê Burundi

  • Các khu vực đang canh tác cà phê: Gitega, Karuzi, Kayanza, Kirundo, Muyinga, Ngozi,..
  • Giống cà phê phổ biến: Bourbon, French Mission, Jackson, Mibirzi,..
  • Phương pháp chế biến: Chế biến ướt một ít sản lượng chế biến khô.
  • Thời Vụ: Tháng 10 – Tháng 12.
Bản đồ cà phê Burundi | Ảnh Cafeimports

Burundi là một quốc gia nhỏ đến nỗi nó không thực sự có các khu vực trồng trọt riêng biệt. Cà phê mọc ngay trên khắp đất nước, bất cứ nơi nào có đất đai và độ cao thích hợp – The World Atlas of Coffee

Trạm chế biên cà phê – Microlots

Giống như các quốc gia có mặt trên Bản đồ cà phê Châu Phi, Cà phê Burundi phát triển mô hình trạm chế biến (Microlots). Do đa số nông dân canh tác nhỏ, với số lượng hạng chế, vì vậy các trạm chế biến được dựng nên để chế biến cà phê cho một khu vực nhất định, cà phê của nôn dân sẽ được bán kèm theo tên trạm chế biến, có thể là Gackowe, Butezi, Gatare, hay Kiryama…

Các Microlots có thể được thành lập bởi tư nhân, hay nhà nước, tùy thuộc vào lãnh đạo, năng lực chế biến, mà chất lượng sản phẩm cũng khác nhau. Hầu hết cà phê Burundi đều được xử lý với phương pháp chế biến điển hình là xát vỏ, lên men khô khoảng 12 giờ, xã nước và ngâm tiếp 12-14 giờ trong nước. Sau đó cà phê được thả nổi để phân loại, rồi tiếp tục ngâm một lần nữa trong 12-18 giờ trước khi được sấy khô.

Năng lực thương mại

Trong mỗi khu vực, các trạm chế biến này được nhóm lại với nhau thành các SOGETAL (Sociétés de Gestion des Stations de Lavage) đây là các tổ chức quản lý trạm chế biến. Việc phát triển chất lượng trong những năm gần đây đã được định hướng thông qua các tổ chức này, chủ yếu thông qua việc cung cấp cơ sở hạ tầng tốt hơn trong khu vực của họ.

Trạm chế biến cà phê tại Burundi

Cho đến gần đây, cà phê từ tất cả các trạm chế biến trong mỗi SOGESTAL đã được pha trộn với nhau. Điều này có nghĩa là cà phê xuất khẩu từ Burundi chỉ có thể truy xuất trở lại SOGETAL – nơi được công nhận là khu vực xuất xứ của chính loại cà phê đó. Năm 2008, Burundi bắt đầu nắm lấy lĩnh vực specialty coffee, cho phép thu mua trực tiếp và truy xuất nguồn gốc nhiều hơn.

Vào năm 2011, tại Burundi đã diễn ra một cuộc thi về chất lượng cà phê được gọi là Prestige Cup, tiền thân của Cup of Excellence được thành lập nhiều hơn. Cà phê từ các trạm chế biến được phân lô và giữ riêng biệt để xếp hạng về chất lượng, sau đó chúng được bán đấu giá với nguồn gốc còn nguyên vẹn. Điều này có nghĩa là chúng ta có thể thấy nhiều loại cà phê độc đáo và thú vị hơn ra mắt tại Burundi trong tương lai và có tiềm năng lớn về chất lượng.

Mối tương đồng giữa Burundi & Rwanda

Các loại cà phê ngon nhất từ ​​Burundi được chế biến ướt và thường có nguồn gốc từ giống Bourbon, mặc dù các loại cà phê khác được trồng. Về nhiều mặt, có những điểm tương đồng giữa Burundi và nước láng giềng Rwanda.

Hai quốc gia có độ cao và giống cà phê tương tự nhau, và cả hai đều phải đối mặt với thách thức như nhau: Thứ nhất, với vị trí nằm sâu trong lục địa châu Phi có thể cản trở việc xuất khẩu cà phê nhanh chóng đến các nước tiêu thụ tốt; Thứ hai giống như ở Rwanda, cà phê ở Burundi cũng dễ bị khiếm khuyết khoai tây – một loại khiếm khuyết do vi khuẩn gây ra trên một số quả cà phê xanh, khó phân loại và có mùi như khoai tây sống.


Nguồn tham khảo:

  • The World Atlas of Coffee: From Beans to Brewing – Coffees Explored, Explained and Enjoyed book by James Hoffmann
  • Origins Coffee – Resource: www.cafeimports.com

NgTg.HaiVan

"Không có con người cà phê chỉ là một cấu trúc mang tính lý thuyết - Thiếu đi cà phê con người cũng mất đi phần nào tính vẹn toàn" | Pour Your Heart Into It.

Trả lời